Mắc ung thư vú có phải cắt bỏ toàn bộ tuyến vú?

Điều trị ung thư vú hướng tới kiểm soát bệnh, đồng thời gìn giữ hình thể và hạn chế di chứng cho người bệnh. Theo ThS.BS Nội trú Lê Văn Vũ, hiểu đúng các phương pháp điều trị giúp phụ nữ chủ động hơn khi chăm sóc sức khỏe và phối hợp với bác sĩ.

Tại Hội thảo chuyên môn “Chủ động bảo vệ sức khỏe phụ nữ – Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý tuyến vú – tuyến giáp” do Bệnh viện Đa khoa Hà Nội phối hợp với Tạp chí Gia đình Việt Nam tổ chức, ThS.BS Nội trú Lê Văn Vũ đã chia sẻ về vai trò của phẫu thuật và sự phối hợp các phương pháp trong điều trị ung thư vú.

Bác sĩ Vũ hiện công tác tại Đơn nguyên Vú và Tạo hình – Khoa Ngoại Quán Sứ 2, là thành viên Tiểu ban Ung thư vú Bệnh viện K, đồng thời là chuyên gia Trung tâm Vú HANO – Bệnh viện Đa khoa Hà Nội.

ThS.BS Nội trú Lê Văn Vũ - Bác sĩ Đơn nguyên Vú và Tạo hình – Khoa Ngoại Quán Sứ 2, là thành viên Tiểu ban Ung thư vú Bệnh viện K, đồng thời là chuyên gia Trung tâm Vú HANO – Bệnh viện Đa khoa Hà Nội.

Bảo tồn tuyến vú khi có chỉ định phù hợp

Theo bác sĩ Vũ, phẫu thuật giữ vai trò quan trọng trong điều trị ung thư vú. Hai phương pháp chính là phẫu thuật bảo tồn và cắt toàn bộ tuyến vú. Việc lựa chọn cần dựa trên đánh giá cụ thể của từng người bệnh.

Với phẫu thuật bảo tồn, bác sĩ cắt bỏ khối u cùng phần mô lành bao quanh, giữ lại phần lớn mô tuyến vú còn lại. Kỹ thuật tạo hình ung thư vú, còn gọi là oncoplastic, có thể được kết hợp để sắp xếp lại mô, bù đắp vùng khuyết sau cắt u và cải thiện hình thể tuyến vú.

Giá trị của phương pháp này còn nằm ở đời sống tinh thần. Giữ được hình thể và thể tích tuyến vú có thể giúp người bệnh giảm cảm giác mất mát, duy trì sự tự tin và cải thiện chất lượng cuộc sống trong quá trình điều trị.

Tuy nhiên, bảo tồn phải đi cùng yêu cầu an toàn về ung thư học. Người bệnh cần được đánh giá khả năng lấy hết tổn thương với diện cắt âm tính, tức không có tế bào ung thư tại bờ mô được cắt bỏ. Xạ trị thường được chỉ định sau phẫu thuật bảo tồn để giảm nguy cơ tái phát tại chỗ. Ở những trường hợp được lựa chọn phù hợp, phẫu thuật bảo tồn kết hợp xạ trị có hiệu quả sống còn tương đương cắt toàn bộ tuyến vú.

Các bác sĩ chia sẻ trong Hội thảo chuyên môn “Chủ động bảo vệ sức khỏe phụ nữ – Cập nhật chẩn đoán và điều trị bệnh lý tuyến vú – tuyến giáp”.

Với những trường hợp cần cắt toàn bộ tuyến vú, bác sĩ lấy bỏ toàn bộ mô tuyến vú. Theo chia sẻ của bác sĩ Vũ, sau mổ, người bệnh có thể gặp tê bì, thay đổi cảm giác, đọng dịch hoặc mất cân đối giữa hai bên ngực. Những ảnh hưởng này cần được quan tâm trong quá trình tư vấn, chăm sóc và phục hồi sau điều trị.

Hạn chế lấy bỏ hạch không cần thiết

Bên cạnh phẫu thuật tại tuyến vú, xử trí hạch nách là nội dung quan trọng trong kế hoạch điều trị.

Bác sĩ Vũ cho biết, ở những trường hợp phù hợp, khi chưa ghi nhận di căn hạch qua thăm khám và đánh giá trước mổ, bác sĩ có thể thực hiện sinh thiết hạch cửa. Đây là kỹ thuật lấy một hoặc một số hạch đầu tiên tiếp nhận dẫn lưu bạch huyết từ vùng khối u để xét nghiệm, qua đó đánh giá khả năng ung thư lan tới hạch.

Nếu hạch cửa không có tế bào ung thư, nhiều người bệnh có thể tránh được việc vét hạch nách rộng rãi. Quyết định xử trí tiếp theo vẫn phải căn cứ vào bệnh cảnh và kế hoạch điều trị tổng thể.

Các bệnh nhân đã và đang điều trị K vú - giáp chia sẻ trong Hội thảo.

Theo bác sĩ Vũ, cách tiếp cận này giúp hạn chế lấy bỏ hạch không cần thiết, giảm nguy cơ phù bạch huyết ở tay, đau và rối loạn cảm giác. Mục tiêu là kiểm soát bệnh, đồng thời giảm những di chứng có thể ảnh hưởng lâu dài đến sinh hoạt của người bệnh.

Phối hợp nhiều phương pháp, cá thể hóa điều trị

Điều trị ung thư vú không dừng lại ở cuộc phẫu thuật. Tùy giai đoạn bệnh và đặc điểm sinh học của khối u, người bệnh có thể được chỉ định hóa trị, điều trị nội tiết, điều trị nhắm trúng đích, điều trị miễn dịch hoặc xạ trị.

Bác sĩ Vũ nhấn mạnh vai trò của điều trị đa chuyên khoa và đa mô thức. Trong đó, đa chuyên khoa là sự phối hợp giữa các bác sĩ phẫu thuật, ung bướu nội khoa, xạ trị, chẩn đoán hình ảnh, giải phẫu bệnh cùng đội ngũ chăm sóc và phục hồi chức năng. Đa mô thức là kết hợp các phương pháp điều trị theo chỉ định.

Sự phối hợp này giúp đánh giá đầy đủ tình trạng bệnh, lựa chọn phương pháp và trình tự điều trị phù hợp. Mỗi người bệnh vì thế cần một kế hoạch riêng, thay vì áp dụng cùng một cách điều trị cho mọi trường hợp.

Bác sĩ Vũ nhấn mạnh vai trò của điều trị đa chuyên khoa và đa mô thức.

Một nội dung được bác sĩ đề cập là hiệu quả điều trị thay đổi theo giai đoạn. Phát hiện bệnh khi còn sớm thường mang lại tiên lượng thuận lợi hơn. Khi ung thư đã di căn đến cơ quan xa như xương, gan hoặc phổi, việc điều trị phức tạp hơn và thường hướng tới kiểm soát bệnh, kéo dài thời gian sống, duy trì chất lượng cuộc sống.

Từ những chia sẻ của bác sĩ Vũ, có thể thấy kiến thức về ung thư vú giúp phụ nữ hiểu rõ hơn các lựa chọn điều trị, lợi ích và những ảnh hưởng có thể gặp. Đây cũng là cơ sở để người bệnh trao đổi với bác sĩ về khả năng bảo tồn tuyến vú, xử trí hạch và chăm sóc sau mổ.

Bên cạnh việc tiếp cận thông tin chính xác, người bệnh cần tuân thủ kế hoạch điều trị, tái khám và phục hồi chức năng theo hướng dẫn. Sự chủ động ấy góp phần giúp quá trình điều trị được thực hiện liên tục, đồng thời hỗ trợ người bệnh từng bước trở lại sinh hoạt thường ngày.

Các bác sĩ chia sẻ kiến thức về ung thư vú giúp phụ nữ hiểu rõ hơn các lựa chọn điều trị, lợi ích và những ảnh hưởng có thể gặp.

Kiểm soát ung thư và gìn giữ chất lượng sống là những mục tiêu cần được quan tâm song hành. Khi hiểu đúng tình trạng của mình và được tư vấn đầy đủ, phụ nữ có thêm cơ sở để tham gia vào các quyết định chăm sóc sức khỏe cùng đội ngũ điều trị.